Đạo tình giữa Hòa Thượng Thích Hành Trụ và ba vị Pháp Lữ

Tinh thần Hòa hợp làm nên sức mạnh vô biên

Ánh sáng của cuộc đời đạo hạnh và hoằng pháp của HT Thích Hành Trụ thì ai ai cũng kính ngưỡng, chốn chốn đều ghi ân. Sự thành công ấy, vẫn có bóng dáng công lao tương trợ, đồng lòng hợp duyên của ba vị Pháp lữ của Ngài không nhỏ. Ba vị ấy là HT Thích Thới An, Thích Viên Thành và Thích Thiện Tường.

Cơ duyên hội hợp đệ huynh của bốn vị Hòa Thượng từ nguồn tâm lưu xuất, từ nhất chí xuất trần. Đã đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, cho nên dù mỗi vị một nơi xuất thân, mỗi người một chốn tông môn, ấy thế mà có thể cùng nhau tương hội, cộng duyên dựng xây đạo tràng Phật pháp, làm rạng rỡ ánh từ quang, làm tồn lưu Pháp khí.

Nơi đạo phong quý Ngài hội hiệp, chốn chí lớn quý Ngài phát huy, đó là vào năm 1944, tại Chùa Long An, Sa Đéc, bốn vị Hòa Thượng trở thành huynh đệ kết nghĩa, pháp lữ chung lòng để dựng xây ngôi nhà Phật pháp. Hòa Thượng Thích Hành Trụ được tôn làm huynh trưởng. Từ đấy, bước chân hành đạo của quý Ngài càng rạng rỡ thêm cho miền Tây Nam Bộ. Rồi quý Ngài lên đất Sài kiến tạo đạo tràng Phật học cho nhị bô Tăng ni là Tăng Già và Giác Nguyên, rồi phát huy ánh sáng đạo mầu các nơi như chùa Khánh Phước, Vạn Thọ, Thiền Lâm, Giác Minh, Vạn Thọ , Quan Âm, Thiên Phuớc, Hội Tôn…. Và rộng lớn hơn là quý Ngài đã cùng chư Tôn Đức Tăng già xây dựng bền vững ngôi nhà chung của Giáo hội.

Cũng nên kính lược qua tiểu sử và xuất thân của quý Ngài để hậu thế người tu biết đâu là nguồn là cội.

Sơ lược tiểu sử Hòa Thượng Thích Thới An:

Hòa Thượng, thế danh là Nguyễn Văn Quang tự Lầu, pháp danh Hồng Thọ, tự Thới An, hiệu Chơn Tánh, thuộc dòng Lâm Tế, phái Nguyên Thiều đời thứ 40. Sinh năm Nhâm Tý (1912) tại lành Tân Phú Trung, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định nay là huyện Củ Chi TP.HCM.

Ngài xuất thân trong một gia đình nho phong, thấm nhuần Phật học, Nội tổ là một Nhà Sư, trụ trì chùa Giác Tánh, là Chùa Tộc ở quê nhà, sau đổi là Chùa Giác Nguyên, Huyện Hóc Môn.

Thân sinh Ngài là cụ ông Nguyễn Chí Đức và cụ bà Trần Thị Tuồng, gia đình có 3 người con, Ngài là con cả, năm lên 7 tuổi mẫu thân mất sớm, Ngài và các em sống trong cảnh bơ vơ lạc lỏng, Ngài theo Nội tổ về Chùa Giác Tánh để chăm lo đèn sách. Được 9 tuổi, theo Chú ruột về chùa Giác Hải, Phú Lâm (Chợ lớn) xin quy y với Hòa Thượng Từ Phong, ngài được ban cho pháp danh Hồng Thọ, ít lâu sau Nội tổ quy tịch Ngài lại cùng Chú về Chùa Giác Tánh để trông nom và học Kinh Luật Phật Pháp.

Thế là : “Mùi Thiền đã bén muối dưa

Màu Thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng”

Ngài trở thành một chú tiểu đồng rất hiếu học ham tu, lập chí tiến thân học đạo. Xin Chú cho về Chùa Giác Hải để hầu Hòa Thượng, đến năm Quý Dậu (1933). Tổ Đình Giác Viên có mở đàn truyền giới. Ngài được Bổn Sư cho đi thọ Giới Sa Di, khi về Ngài chuyên lạy Tam Thiên Phật và trì chú Đại Bi. Sau hai năm tinh tấn tu hành, thuộc làu kinh luật, Ngài được thọ Cụ Túc Tỳ Kheo Giới.

SƠ lược tiều sử HÒA THƯỢNG KHÁNH PHƯỚC:

Hòa Thượng thế danh : LƯƠNG TƯ THANH, pháp danh THỊ NIỆM, tự HÀNH NGUYỆN , hiệu VIÊN THÀNH, thuộc dòng Lâm Tế CHÚC THÁNH đời thứ 42.

Hòa Thượng sanh năm 1904 Kỷ Dậu, tại làng Minh Hương, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định, Trung Việt. Hòa Thượng sanh ra trong một gia đình nho phong. Thân phụ là cụ LƯƠNG ĐÌNH THẢO, thân mẫu là NGUYỄN THỊ XI, Ông Bà sanh được 7 người con, Hòa Thượng là người thứ 5. Thuở niên thiếu Ngài đã được song thân un đúc về Nho Giáo, nên Ngài cũng là trang chí hiếu nổi tiếng, trong đời được người xưng tụng, với bẩn chất thông minh chí cầu học, chẳng bao lâu Ngài đã lão thông triết thuyết Khổng Mạnh. Tuy nhiên Ngài không lấy đó làm toại nguyện với bước đường khoa hoạn lập thân, mà Ngài cứ đâm chiêu trước sự giả huyển của cuộc đời. Ngài quyết chí tìm ra sự thật của cuộc đời, để đem đến cho cuộc đời một chơn phúc lạc.

Hòa Thượng xuất gia vào năm 15 tuổi, với sự thiết tha cầu đạo của Ngài, nên Ngài đã được song thân đưa đến đầu cơ với Hòa Thượng Bổn Sư Thích Chính Đạo chùa Tường Quang, Khánh Hội Quận 4.

Năm 24 tuổi, được thọ tam đàn cụ túc giới tại Chùa Tân Bửu, Xuyên Mộc. Với tuổi thanh xuân đầy nhựa sống của con người, Ngài đã dũng mãnh từ bỏ cảnh xa hoa thế tục, ảo ảnh phù hư, kham lãnh một nếp sống thanh bần đạm bạc, tương dưa, chỏng tre, chiếu cỏ.

Nơi chốn không môn, ngoài việc chấp tác hầu Thầy, Ngài đã cần cù tu học, chẳng bao lâu Kinh Luật Luận Ngài đều thông hiểu am tường, thêm pháp khoa giáo mạch lạc cổ truyền.

SƠ lược về tiều sử HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TƯỜNG

Hòa Thượng pháp danh THANH GIỚI tự CHƠN NHƯ hiệu THIỆN TƯỜNG, thuộc dòng Lâm Tế CHÁNH TÔNGđời thứ 41, sinh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Bình Xuân, Tổng Hòa Lạc, Tỉnh Gò Công, Nam Việt.

Ngài xuất thân trong một gia đình nho phong, bần nông theo Đạo Phật. Bản tánh chơn chất hiền hoà, nội ngoại điều kính tin Phật.

Thân phụ của Ngài là NGÔ VĂN CHỒN , thân mẫu ĐỖ THỊ THƠ, Ông bà sinh hạ được 5 người con, 3 trai, 2 gái. Người anh cả đã chết từ thuở bé, kế đến Ngài là 2 em gái, cùng 1 em trai.

Cô em út ĐỖ THỊ THAI nối chí theo Ngài xuất gia đầu Phật hiện giờ là Ni Sư TỊNH QUANG, hiệu DIỆU HÒA, TRỤ TRÌ Chùa Quan Âm Cầu Tre và Chùa Quang Minh Gia Định.

Năm lên 9 tuổi, Hòa Thượng đã mồ côi cha sớm. Vốn lòng rất chí hiếu nên hết lòng thức khuya dậy sớm phụ giúp việc đồng án, lao động cần cù cực nhọc với Mẹ hiền

để lo sinh kế gia đình và nuôi dạy các em thơ.

Mặc dù hằng ngày vẫn lam lũ lao động, phụ giúp kinh tế gia đình, nhưng lúc nào trong tâm hồn của Ngài vẫn sẵn có một chí hướng xuất trần. Vì đối với việc đời, Ngài thường không tha thiết mà hành thích theo thân mẫu về Chùa trong làng lễ Phật nghe kinh.

Một hôm nhơn dịp hầu Thầy Tụng kinh kỳ Siêu cho người Ông thứ 9 của Ngài. Mỗi khi nghe Thầy Tụng Kinh, niệm Phật, nhịp mõ, hồi chuông, tự nhiên lòng Ngài cảm thấy nao nao, bùi ngùi xúc động, chạnh nghĩ đến nhơn sanh thống khổ, thế cuộc vô thường, nên lúc ấy chí xuất trần của Ngài càng thêm lớn mạnh, ngậm ngùi rơi lệ tâm hồn muốn được gởi chốn thiền môn.

Rồi một hôm thiện duyên đã đến, Ngài khăn gói xin phép mẹ hiền xuất gia Chùa Long Quang làng Bình thạnh tu học đạo mầu. Lúc ấy nhằm ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (1937) nhằm mùa Phật Đản Sanh. Bấy giờ Hòa Thượng được 19 tuổi.

Năm 23 tuổi nhận thấy ở Chùa làng chẳng phải là nơi mình có thể tiến thân trên đường đạo nghiệp tương lai. Ngài bèn khăn gói y bát nâu sòng lên Sài Gòn tá túc Chùa Linh Sơn công quả và học đạo. Nơi đây, hạnh duyên được gặp Thầy Tổ là Hòa Thượng LÊ PHƯỚC CHÍ, Ngài liền theo cầu học đạo sớm khuya cần mẩn tham cứu kệ kinh.

Thầy tuy còn trẻ mà đã biết tinh thần tu học như thế, Hoà Thượng Tổ rất qui mến, bèn truyền đạt cho Ngài những yếu lý thâm huyền của Chư Phật.

Năm 1941, Ngài được thọ tam đàn cụ túc tại Chùa Xuân Quang Phan thiết.

Năm 1943 với ước nguyện được quảng bác Kinh văn, suốt thông bối diệp, mở mang Phật huệ ngõ hầu làm ngọn thiền đăng dẫn lối cho hậu lai… Ngài cùng sư huynh THỚI AN y bát ôm Kinh Quẩy Luật lên đường tầm học nhiều nơi, hễ nghe ở đâu có bậc cao đức là tìm đến xin được thọ học, Ngài đã quá bước đến thọ học với Hoà Thượng HÒA BÌNH, ở Chùa Kim Huê, Hòa thượng BỬU ĐẠT Chùa LINH SƠN v.v…

Cung kính nghĩ rằng:

Qua vài hình ảnh về cuộc đời tu hành và hóa đạo của bốn vị Hòa Thượng, hành hậu học chúng ta càng cung kính bội phần. Cung là là trọng đức tánh Từ Bi và hòa hợp của chư vị, kính là tôn những hạnh nguyện cao vời và đức hy sinh cao cả của các Ngài.

Bởi lẽ, đường đời muôn vạn nẻo, chiếm phần đông đi vào nẻo hướng ngoại tìm cầu, ít ai muốn vì nhân sinh mà phục vụ, ấy thế mà các Ngài cùng bắt tay nhau phát nguyện Từ Bi, cùng tiếp sức nhau để viên thành Trí Tuệ. Cáng quý báu hơn , quý Ngài đã đi hết cuộc đời mình với đức hạnh và lợi tha trước sau nhất quán như vậy. Thật là kính ngưỡng bội phần, thật là tán dương vô tận vẫn chẳng khôn cùng Tâm lượng bao la và đức hạnh vô ngần của quý Ngài.

Pháp tôn của quý Ngài

Thích Chúc Hội kính đảnh lễ và tri ân

(Nguồn: http://www.chuadonghung.com)

Để lại lời bình

shared on wplocker.com